Cả đàn ông và phụ nữ thường không muốn chia sẻ thật (hoặc chỉ chia sẻ rất ít sự thật) khi trả lời những câu khảo sát về đời sống tình dục lứa đôi. Cũng chẳng thể trách họ được!!! Đương nhiên không một ai, ngay cả chính bạn cũng vậy, muốn nói ra những bí mật tình dục đen tối nhất của mình với một người hoàn toàn xa lạ.

Ngay cả khi được khảo sát bằng những cách tế nhị hơn (VD: trả lời tin nhắn ẩn danh với sự hướng dẫn rõ ràng từng bước thực hiện), thì tình trạng cũng chẳng mấy khả quan. Người tham gia khảo sát vẫn có xu hướng chỉ tiết lộ rất ít về các chủ đề nhạy cảm: tình dục, việc sử dụng ma túy, chất kích thích hay về hành vi phạm tội của cá nhân họ. Tin vui dành cho những ai quan tâm đến bước tiến của ngành khoa học nghiên cứu sự đa dạng tính dục là có những phương thức dựa trên bằng chứng giúp người khảo sát biết được tỷ lệ người tham gia khảo sát về sex có đang nói dối hay không. Hãy cùng tìm hiểu nhé.

Con số của bạn là gì?

Bằng chứng thuyết phục nhất cho thấy một người đang nói dối có lẽ được thể hiện qua câu trả lời của họ khi được hỏi về “số người tình trong quá khứ”. Thông thường, đàn ông dị tính có số người tình trong quá khứ nhiều hơn đàn bà dị tính. Giả sử đặc điểm nhân khẩu học của nhóm dân số dị tính là khép kín, tức không có sự di cư hay nhập cư ở đây, thì câu trả lời về số lượng người tình trong quá khứ trên vẫn không thực sự tăng lên. Một số người vẫn chọn kiểu trả lời thiếu trung thực, tuy nhiên cần phải xem liệu lời nói dối đó đến từ đàn ông, đàn bà hay từ cả hai giới.

Mặc dù trên thực tế, khi xem xét đến sự chênh lệch về số lượng người tình trong quá khứ của mỗi giới, một số bằng chứng cho thấy họ không hề nói dối. Tại sao lại như vậy? Các nhà nghiên cứu tập trung phân tích 3 luận điểm chính lý giải tại sao sự khác biệt về giới tưởng chừng không thể tồn tại này lại có thể liên quan tới việc nói dối một cách chủ động:

1) Sự khác biệt giới trong chiến lược “Đếm”

Khi được hỏi về số lượng người tình trong quá khứ, phụ nữ thường có xu hướng liệt kê hoặc nhớ lại từng người một (nào là Bill, Ted, Tony, Tim …); trong khi đối với đàn ông, họ có xu hướng “đoán” hoặc thường đưa ra một con số làm tròn (xấp xỉ 10). Các nghiên cứu xoáy sâu phân tích hiện tượng “đếm” này kết luận rằng: Sự khác biệt về giới sẽ mất đi khi bạn yêu cầu người khảo sát sử dụng cùng một cách đếm như nhau để trả lời (họ sẽ đếm từng người một hoặc đưa ra con số ước lượng) (Theo Brown & Sinclair, 1999; Mitchell et al., 2018).

Sự khác biệt này cũng giảm đi khi áp dụng hỏi với khung thời gian quá khứ ngắn hơn, ví dụ chỉ xét trong khoảng thời gian 1 năm trở lại đây (ngụ ý chỉ những chiến lược “đếm” được chuẩn bị tỉ mỉ chính là nguyên nhân, theo Brown và cộng sự, 2017). Thật vậy, nhóm nghiên cứu của Brown (2017) mới đây đưa ra kết luận rằng: Sự khác biệt giới trong câu trả lời về số người tình trong quá khứ, thể hiện rõ rệt khi khảo sát bằng hình thức trả lời phỏng vấn qua điện thoại (chứ không phải từ hình thức khảo sát trên nền tảng web, nơi mà người ta có nhiều thời gian để suy tính cho câu trả lời của mình). Và sự khác biệt giới này được thấy rõ với những ai thực sự có số lượng người tình quá khứ nhiều (và một lần nữa, những chiến lược “đếm” công phu chính là nguyên nhân). Suy cho cùng thì có lẽ một số người thực sự đã nói thật.

2) Sự khác biệt giới tính trong quan điểm về tình dục 

Một số nghiên cứu khác kết luận rằng nam và nữ có sự khác biệt cơ bản trong nhận thức về “Quan hệ tình dục” (Wiederman, 1997). Nguyên nhân là do, so với nữ giới, nam giới coi nhiều hành vi động chạm chính là tình dục (ví dụ: việc quan hệ bằng miệng, hay masage thân mật). Chính nguyên nhân này giải thích tại sao, tính bình quân, đàn ông thường trả lời với số người tình cũ nhiều hơn phụ nữ.  

3) Sự khác biệt giới tính trong mại dâm. 

Trong hầu hết các cuộc khảo sát về chủ đề tình dục, người bán dâm thường không được liệt vào lấy mẫu (các nhà tâm lý học không liệt kê họ vào đối tượng mẫu), và phần lớn đối tượng nam giới mua dâm nhiều hơn đối tượng nữ giới (ở Mỹ, nam giới chiếm khoảng 15%, trong khi nữ giới chỉ chiếm hơn 1% số người mua dâm – xem biểu đồ bên dưới. Theo Smith, 1998). Nói chung, điều này có thể cũng là nguyên nhân khiến nam giới có số bạn tình cũ nhiều hơn nữ giới (theo Wiederman, 1997). Nghiên cứu của Brewer và các cộng sự thực hiện vào năm 2000 cho thấy sự khác biệt về giới cũng sẽ biến mất khi mà đối tượng người bán dâm (vốn bị bỏ qua) và (kéo theo tương ứng là) số lượng lớn người tình cũ của họ được liệt kê vào danh sách đối tượng mẫu trong những cuộc khảo sát lớn diễn ra ở Mỹ.

ProCon Organization (2017)

Nguồn: Tổ chức ProCon (2017)

Với bằng chứng chắc chắn về sự khác biệt giới tính trong các chiến lược “đếm”, nhận thức về tình dục, và việc mua dâm, ta thấy rằng người được khảo sát có lẽ cũng không thực sự muốn nói dối về số lượng người tình cũ. Ít ra có thể kết luận rằng, trong các cuộc khảo sát về chủ đề tình dục, đối tượng khảo sát có thể trả lời thành thực hoặc không với câu hỏi về số lượng bạn tình cũ. Tuy nhiên, nói dối là điều không cần thiết.

Vậy chúng ta có thể tin tưởng vào những câu trả lời trong những cuộc khảo sát tình dục không?

Câu trả lời đơn giản là: Không thể. Theo quan điểm của tôi, không nên tin tưởng hoàn toàn vào câu trả lời của mọi người về câu hỏi liên quan đến tình dục. Các nhà khoa học thường không dễ bị thuyết phục, họ luôn giữ quan điểm hoài nghi và tiến hành các bước xác minh kỹ càng. Vì vậy, tính xác thực của các câu trả lời khảo sát về tình dục phải phụ thuộc vào những bằng chứng đáng tin cậy nhất, chứ không nên dựa trên niềm tin ý thức hệ hay quan điểm cá nhân về xu hướng giới trong vấn đề nói dối hay không nói dối về tình dục.

Evidence Storage (2017)

Nguồn: Kho Lưu trữ bằng chứng (2017)

Nhận xét phản hồi đối với kết quả của những cuộc khảo sát cá nhân (cho dù là về hành vi tình dục, đặc điểm tính cách, giá trị cá nhân hoặc sở thích về các nhãn hiệu đĩa giấy) nên được đánh giá theo kinh nghiệm về khả năng đưa ra kiến thức bổ ích của người phản hồi. Đánh giá chính thức thuộc tính tâm lý của thang đo là một trong những cách tốt nhất để kiểm tra một cách nghiêm ngặt xem liệu rằng các phản hồi cá nhân (và thang đánh giá xây dựng dựa trên các phản hồi ấy) có trung thực hay không. (Theo Haeffel & Howard, 2010; Nunnally, 1978).

Bằng các công cụ tốt nhất hiện có, các nhà nghiên cứu ghi nhận phản hồi khảo sát về tình dục một cách trung thực hơn khi dẫn chứng những mức độ tâm lý của:

a) Sự ổn định trong tâm trí – Internal Reliability

 (Mọi người trả lời một cách nhất quán khi được hỏi về vấn đề tình dục, VD: Với cùng một câu hỏi, lúc này họ sẽ trả lời rằng họ không thích tình dục ngẫu hứng (casual sex – không có sự gắn kết tình cảm hay sự quen thuộc với đối phương), và một lúc sau họ trả lời rằng họ ghét tình dục ngẫu hứng.)

b) Sự ổn định tạm thời – Temporal Reliability

(Mọi người trả lời một cách nhất quán khi được hỏi về vấn đề tình dục theo thời gian. VD: Nếu hôm nay họ trả lời rằng họ thích kiểu tình dục ngẫu hứng, họ có lẽ cũng sẽ trả lời như vậy vào tuần tới.)

c) Cấu trúc các nhân tố bất biến – Invariant Factor Structure

(Phản hồi theo một cách có nghĩa của mọi người về việc quan hệ tình dục nhóm. VD: Những câu hỏi về tình dục ngẫu hứng nên có sự liên kết ý nghĩa hợp lý với nhau.)

d) Giá trị nội dung – Content Validity

(Phản hồi của mọi người về tình dục, bao gồm: các mục chính liên quan đến các lĩnh vực tình dục mà chúng ta quan tâm. VD: Chúng ta đã hỏi đến các khía cạnh thực sự quan trọng của tình dục ngẫu hứng hay đã hỏi về tất cả các kiểu quan hệ tình dục ngẫu hứng hay chưa?)

e) Giá trị liên quan đến tiêu chuẩn – Criterion-Related Validity

(Phản hồi của mọi người về tình dục luôn có sự tương quan với kết quả thể hiện ra ở bên ngoài với những điều mà chúng ta quan tâm, đồng thời cũng sẽ tương quan với các kết quả diễn ra trong tương lai. VD: Thái độ của một người về tình dục ngẫu hứng có liên quan đến những đặc điểm sinh học nhất định về giới tính: như gen, hooc môn, sự biến đổi cấu trúc não; hay cách họ phản ứng trong các phòng thực nghiệm tình dục ngẫu hứng, hoặc dự đoán liệu họ có quan hệ như vậy trong các năm tới hay không, (VD: tiêu chuẩn cá nhân về người bạn đời như sự hấp dẫn hay địa vị) thực sự có thể dự đoán ai sẽ là người bạn gắn bó theo thời gian (theo Gerlach, Arslan, Schultze, Reinhard, & Penke, 2019).

f) Giá trị hội tụ – Convergent Validity

Phản hồi về tình dục sẽ tương quan với các hành vi tình dục tương tự khác, VD các câu trả lời về tình dục ngẫu hứng liên quan đến các hành vi khiêu dâm nên có sự liên hệ với các câu trả lời về tình dục ngẫu hứng liên quan đến các hành vi tình dục xã hội)

g) Giá trị khu biệt – Discriminant Validity

Phản hồi về tình dục không tương quan với những điều như xu hướng phản hồi, VD: câu trả lời về tình dục ngẫu hứng không nên bị gán ghép với xu hướng nói dối trong các cuộc khảo sát. Chẳng hạn như, trong một cuộc nghiên cứu, chỉ có một chút tương quan giữa câu trả lời cá nhân của nam giới về kích thước dương vật và định kiến niềm tin trong xã hội, nhưng sự tương quan đó cũng khá tích cực. (r(164) = .16, p = .04; King et al., 2019).

Ngoài những điểm tôi đã nêu ở trên, còn rất nhiều điều khác cũng liên quan đến tâm lý học, nhưng có lẽ bạn sẽ hiểu ý kiến đó. Các nhà khoa học về tình dục đã nỗ lực hàng thập kỷ nhằm đưa ra những câu hỏi đúng đắn về lĩnh vực tình dục (và thang đo được xây dựng bằng cách kết hợp các phản hồi của một số câu hỏi về giới tính), để các phản hồi đó mang lại thông tin chính xác về mặt tâm lý.

Tất nhiên, không hẳn mọi câu trả lời về tình dục đều hoàn toàn trung thực, và ngay cả những phản hồi về việc sử dụng ma túy, hành vi tội phạm hay về rất nhiều chủ đề xã hội nhạy cảm khác cũng vậy. Phản hồi khảo sát cá nhân có thể bị sai lệch do hành vi nói dối, sự hạn chế kiến thức cá nhân, hay sự hiểu sai đối với một số từ nhất định… (Theo Shrout et al., 2017). Mặc dù vậy, các bằng chứng tâm lý học cho thấy nhiều cuộc điều tra hành vi tình dục cá nhân có phản hồi trung thực đến mức có thể sử dụng cho nghiên cứu khoa học. Hãy xem một ví dụ khảo sát cá nhân về hành vi tình dục có sự thể hiện tâm lý đúng đắn.

Bằng chứng về sự hữu ích của khảo sát cá nhân về tình dục: Tình dục xã hội

Tình dục xã hội đề cập đến sự sẵn sàng quan hệ mà không có sự cam kết ràng buộc nào giữa đôi bên (Theo Simpson & Gangestad, 1991). Một số người nói rằng họ khá “thoáng” với vấn đề tình dục xã hội (VD: họ đồng tình với việc quan hệ tình dục không cần tình yêu), và một số khác lại khá “bảo thủ” với vấn đề này (VD: họ chỉ quan hệ nếu thực sự yêu một ai đó). Hầu hết các nghiên cứu chỉ ra đàn ông có quan điểm thoáng hơn phụ nữ về vấn đề tình dục (VD: đàn ông sẵn sàng việc quan hệ tình dục không có tình yêu hơn phụ nữ; Theo Schmitt, 2005). Nhưng liệu những phản hồi này có thể tin được không? Bằng chứng nào cho thấy câu trả lời của mọi người về tình yêu và tình dục là đáng tin? Và liệu họ có thực sự giữ quan điểm khác nhau về hành vi tình dục xã hội hay không?

Xét về mặt tâm lý học, một phương thức đánh giá tình dục xã hội, có tên làSOI – hay Kiểm kê định hướng xã hội, đã được xây dựng với các tiêu chí cao như: có sự  ổn định tâm lý, sự ổn định tạm thời, cấu trúc nhân tố bất biến (đặc biệt là SOI-R), giá trị nội dung, giá trị liên quan đến tiêu chuẩn, giá trị khu biệt (Theo Simpson & Gangestad, 1991; Simpson, 1998; Simpson và cộng sự, 2004). Vậy nên, dựa trên khá nhiều bằng chứng thực nghiệm, các phản hồi khảo sát tình dục có vẻ khá trung thực và rất có ích về mặt khoa học.

Như một ví dụ về tâm lý học, vấn đề tình dục xã hội qua khảo sát cá nhân có tính toán đến cả phần thông tin được cung cấp bởi những người ngoài cuộc. Phản hồi theo phương thức SOI có xem xét đến cả những ý kiến của những người ngoài cuộc và sự xếp hạng từ bạn bè (Theo Gangestad & Simpson, 2000; Simpson, 1998; Simpson et al., 2004). Qua một số nghiên cứu, phản hồi SOI cũng liên quan đến các tiêu chuẩn về ngoại hình như: sự đối xứng khuôn mặt, tỷ lệ chiều dài ngón tay, và nội tiết tố (Theo Edelstein et al., 2011; Gangestad & Simpson, 2000; Simpson, 1998; Simpson et al., 2004). Ví dụ, việc làm bạn tình (trong một mối quan hệ lâu dài) thường khiến nam giới giảm lượng hooc môn Testosterone trong cơ thể. Tuy nhiên, cũng ở đối tượng nam giới có bạn tình lâu dài mà có tham gia khảo sát cá nhân về tình dục xã hội với phản hồi rằng họ thích quan hệ không ràng buộc thì lượng Testosterone lại không hề giảm đi. (Theo Edelstein et al., 2011).

Edelstein et al. (2011)

Nguồn: Edelstein et al. (2011)

Người ta cũng có thể so sánh đồng tính nam với đồng tính nữ để có đánh giá chính xác hơn về khác biệt giới tính trong tình dục xã hội (khi mà hành vi không bị hạn chế bởi người khác giới). So với đồng tính nữ, đồng tính nam có xu hướng trả lời khảo sát cá nhân với quan điểm ít bị ràng buộc hơn về tình dục xã hội, và họ thích quan hệ tình dục với nhiều hơn số lượng 2 bạn tình, họ cũng chỉ thích các mối quan hệ có thời gian gắn bó ngắn (Theo Bailey, Gaulin, Agyei, & Gladue, 1994; Buss & Schmitt, 2011; Schmitt, 2005; Symons, 1979).

Có nhiều nghiên cứu đã tìm ra những điểm mới về vấn đề tình dục xã hội. Ví dụ, Blumstein and Schwartz (1983) đưa ra luận điểm rằng 76% các cặp đồng tính nam đã từng trải qua 1 mối tình, trong khi tỉ lệ này ở các cặp đồng tính nữ chỉ chiếm 11%. Còn theo Bell and Weinberg (1978), có khoảng 75% đồng tính nam từng có tới hơn 100 bạn tình, trong đó khoảng 18% thừa nhận họ có tới hơn 1,000 bạn tình (trong khi không có đồng tính nữ nào chia sẻ về số lượng bạn tình quen trong ngắn hạn của họ).

Mới gần đây, như ghi nhận của Schmitt (2005) cho thấy nam giới dị tính và nam giới đồng tính có thái độ cởi mở như nhau về tình dục xã hội. Tuy nhiên, do nhóm bạn tình của nam giới đồng tính bao gồm cả những người đàn ông có quan điểm thoáng hơn về tình dục xã hội, nên họ thường muốn kết giao bạn tình với thời gian ngắn hơn nam giới dị tính (Xem biểu đồ dưới đây).  

Schmitt (2005)

Nguồn: Schmitt (2005)

Các phản hồi kiểu SOI hầu như luôn thể hiện giá trị hội tụ, và có vai trò lý thuyết hóa các cách thức mang tính cá nhân về động cơ giao phối, sở thích bạn đời, khởi đầu mối quan hệ, tương tác mối quan hệ và môi trường gia đình ở giai đoạn đầu (Theo Simpson et al., 2004).

Một công cụ nữa giúp đảm bảo tính hữu ích của các cuộc khảo sát cá nhân về tình dục xã hội, là phải tìm hiểu sâu về các xu hướng phản hồi, và chứng tỏ rằng phản hồi SOI có giá trị khu biệt. Schmitt (2005) đã xem xét kỹ các xu hướng phản hồi về việc tạo ấn tượng trước người khác, mà có gắn với vô số phương pháp liên quan đến tình dục, trong đó điển hình là mức phản hồi ngang nhau của cả nam và nữ (VD: mức độ hoạt động tình dục là thấp hơn với những đối tượng chú ý nhiều hơn đến việc tạo ấn tượng trước người khác; tuy nhiên khoảng cách khác biệt giới cũng không bị ảnh hưởng nhiều dù có cân nhắc đến việc tạo ấn tượng trước người khác).

Nếu coi tình dục xã hội như là một tiêu chí đánh giá trong phản hồi SOI, thì ham muốn tình dục của cả 2 phái nam và nữ đều sẽ giảm khi có cân nhắc đến yếu tố tạo ấn tượng trước người khác. Tuy sự khác biệt giới có giảm đi một chút, nhưng nó không thể bị loại bỏ dù dùng bất cứ phương tiện đánh giá nào. Sự khác biệt giới tính trong quan điểm về tình dục xã hội ở Mỹ đã giảm từ d= .63 xuống còn d= .57 sau khi có cân nhắc đến việc tạo ấn tượng trước người khác. Sự khác biệt này giảm khoảng 10%, và không thể giải thích cho hiện tượng giảm này bằng bất cứ phương pháp nào. Tuy nhiên, có một loạt bằng chứng xác nhận tính giá trị của sự khác biệt giới tính trong những khảo sát cá nhân về tình dục xã hội. Trong những nghiên cứu đã được tiến hành trước đó, nam giới phản hồi với tình dục xã hội ở mức cao hơn nữ giới. (Theo Schmitt, 2005; average d = 0.74). Chúng ta không thể chắc chắn liệu mỗi người có đang trả lời trung thực với mỗi câu hỏi trên SOI hay không (và hầu hết đều không trả lời trung thực). Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa rằng kết quả của cuộc khảo sát là vô nghĩa. Bằng chứng tâm lý tốt nhất mà chúng tôi đưa ra cho thấy các phản hồi khảo sát trên SOI, và trên nhiều phương thức khảo sát liên quan đến tình dục khác đều có tính hữu ích về mặt khoa học. Các phản hồi này đều rất hợp lý và có độ “chính xác” tương đối cao nếu cách nêu câu hỏi cũng chính xác. (Theo Andersen & Broffitt, 1988; Catania et al., 1990; Weinhardt et al., 1998)

Tác giả: Bác sĩ chuyên khoa David P Schmitt
Người dịch: Hoàng Thủy
Nguồn: Can We Trust What Men and Women Reveal on Sex Surveys?