“Có khu rừng thanh niên xung phong

Thiếu đàn ông toàn con gái chưa chồng

Họ cứ cười như điên như điên

Chiến tranh thì liên miên liên miên

Họ không cười thì chết mất”

Những câu hát đầu tiên trong ca khúc “Chuyện năm người” của Trần Tiến đã vang lên trong đầu tôi trong suốt thời gian hai tiếng của bộ phim “Truyền thuyết về Quán Tiên” (2019, đạo diễn Đinh Tuấn Vũ). Tiếng “cười như điên như điên” có lẽ là thứ gây ám ảnh nhất. Tiếng cười của những cô gái trẻ thiếu thốn tình dục và sự ấm áp của hơi trai trong hang sâu tăm tối giữa rừng Trường Sơn, vừa ma quái lại vừa bi thương. Tiếng cười điên loạn cũng là pha diễn đạt nhất của các nữ diễn viên thủ vai ba cô gái thanh niên xung phong ở hang Quán Tiên.

Bộ phim dựa trên truyện dài cùng tên của nhà văn Xuân Thiều, tiếc rằng tôi chưa có cơ hội được đọc truyện ngắn này để đối chiếu những điểm giống và khác nhau giữa bản điện ảnh và truyện. Tuy nhiên, tôi phải thừa nhận “Truyền thuyết về Quán Tiên” là bước tiến lớn trong dòng phim Cách Mạng. Nếu văn chương Cách Mạng từ sau Đổi Mới đã sớm “phát hiện những điều mới mẻ của con người, đào xới sâu vào con người, thể xác lẫn tâm linh, cả hành động lẫn tư duy, để cuối cùng hướng con người tới chân, thiện, mỹ” (Trích “Tâm sự về truyện ngắn” của nhà văn Xuân Thiều) thì điện ảnh Cách Mạng vẫn gần như dẫm chân tại chỗ với tinh thần lãng mạn Cách mạng vốn dựa trên sự lý tưởng hóa hình ảnh những người lính và thanh niên xung phong tham gia chiến trận trong suốt những năm qua. Nếu như bộ phim “Ngã ba Đồng Lộc” (1997, đạo diễn Lưu Trọng Ninh) cũng khai thác tình trạng cô đơn và thiếu thốn đàn ông của các cô gái thanh  niên xung phong  bằng các mơ mộng yêu đương thì “Truyền thuyết về Quán Tiên” đã đột phá đi vào những ám ảnh tình dục sâu kín và chứng nhiễu tâm dày vò các cô gái trẻ tuổi trong chiến tranh nơi rừng núi hoang vu.

Ca khúc trong phim “Truyền thuyết về Quán Tiên”:

Tiếng cười điên loạn và man dại của ba cô gái cất lên giữa rừng núi hoang vu ẩn chứa trong đó là sự bùng phát của năng lượng tình dục bị ức chế. Ba cô gái trẻ được thủ trưởng giao  nhiệm vụ dựng nên một Quán Tiên ở ven đường hành quân vào Nam của các anh giải phóng quân. Phải thừa nhận, thủ trưởng rất hiểu tâm lý cánh lính trẻ. Những người lính trẻ với năng lượng dục bừng bừng không chỉ “xếp bút nghiên lên đường chiến đấu” mà còn gác lại cả những ham muốn và khát khao để cống hiến cho đất nước. Bởi thế, nếu họ dừng chân ở một quán hàng trên chặng đường hành quân, được ăn uống nghỉ ngơi và được phục vụ bởi những cô gái trẻ mơn mởn xinh đẹp thì họ sẽ được tiếp thêm động lực để dấn thân lao vào cuộc chiến. Vấn đề nằm ở chỗ, làm sao để kỷ luật quân đội có thể áp chế được những cơn động dục không ngừng xao động? Ông thủ trưởng duy ý chí, chỉ có thể dùng kỷ luật thép để cố giữ những cô gái khỏi cơn ham muốn, nhưng không rõ ông có biết rằng vô tình ông đã đẩy họ rơi sâu vào cơn điên loạn?

Ba cô gái Mùi, Phượng, Tuyết Lan đều rơi vào chứng rối loạn thần kinh do áp chế ham muốn dục (hysteria) theo những cách rất khác nhau. Tuyết Lan là trường hợp phát bệnh điển hình thường thấy trong các mô tả của Sigmund Freud về tính dục. Trong “Ba lý thuyết về tính dục”, Freud cho rằng chứng rối loạn thần kinh chủ yếu có nguyên nhân do sự áp chế ham muốn dục. Người bị loạn thần la hét, co cứng chân tay, lên cơn động kinh giả… Những cơn loạn thần hành hạ Tuyết Lan thường xuyên và chỉ thuyên giảm khi cô được “chữa” bởi sự động chạm xác thịt của anh lính Tây Nguyên Ku Xê. Còn Phượng, tuy chứng bệnh không trầm kha và tưởng như không hề bị tính dục khống chế, nhưng thực ra được diễn biến theo một cách tinh vi hơn. Phượng luôn bột phát cảm xúc thất thường và quá mức, tới độ vô duyên. Sự vô duyên này cũng là một biểu hiện của chứng loạn thần. Và ta chỉ thấy Phượng tinh tế dần lên khi say đắm trong mối tình tưởng như lý tưởng với anh lính lái xe Trường Sơn.

Mùi là trường hợp phức tạp nhất và là tuyến loạn thần chính trong phim. Khác với Phượng và Tuyết Lan, Mùi đã có chồng và là mẫu người tuân thủ kỷ luật, đề cao lý trí. Mở đầu phim, Mùi luôn nhớ tới người chồng đã 5 năm không gặp của mình, thế nhưng, người xem hẳn sẽ sớm nhân ra sự nhớ nhung này hoàn toàn nhạt nhẽo. Người đàn ông của Mùi không có cá tính, không có sức sống, chỉ là một hình bóng mờ ảo trong tâm trí để đại diện cho sự khát khao xác thịt của Mùi. Dần dần, hình ảnh ấy đã được thay thế bằng mẫu hình thực tiễn hơn – con vượn. Gần hang Quán Tiên có một con vượn đực cô đơn, nó theo đuổi Mùi. Mỗi khi thấy Mùi tắm ở suối, nó lại đu cây và sờ chim tự sướng. Chứng kiến nhiều lần hình ảnh ấy, Mùi vừa sợ hãi, vừa kinh tởm, nhưng lại bị ám ảnh. Xen lẫn giữa giấc mơ về người chồng giờ đây là hình ảnh con vượn đực đang tự sướng.

Liệu có hay chăng một nghịch cảnh như thế? Vượn và người cùng giống linh trưởng và nỗi ám ảnh về người làm tình với khỉ hoặc vượn đã trở thành mô tuýp dân gian. Vở tuồng “Bạch Viên Tôn Các” cũng kể về mối tình của chàng thư sinh Tôn Các và con vượn thành tinh Bạch Viên. Người xưa đã đắp thêm lớp mặt nạ văn minh bằng cách biến con vượn thành yêu tinh vượn có thể hóa hình người để bao biện cho cơn ham muốn dục hoang dã bị kìm tỏa bởi phép tắc Nho giáo. “Công dư tiệp ký” cũng ghi chép rằng Mạc Đĩnh Chi là con của người và khỉ: “Tương truyền làng ông (chỉ Mạc Đĩnh Chi) có một cái gò lớn, cây cối um tùm, có nhiều khỉ vượn. Một hôm mẹ ông lên gò kiếm củi, bị một con khỉ đực hiếp. Bà về nói chuyện với bố ông. Bố ông liền mặc quần áo đàn bà và giắt một con dao sắc lên gò. Khỉ quen thói cứ chực hiếp dâm, thì bị bố ông lấy dao chém chết. Sáng hôm sau ra xem thì thấy mối đã đắp đất lên xác khỉ thành một cái mộ lớn, bố ông cho là một sự kì dị. Từ đó mẹ ông thụ thai, đến 12 tháng thì sinh ra ông. Ông thấp bé xấu xí, người ta cho là giống khỉ” .Sau này, Phạm Duy có một bài hát rất ngộ nghĩnh trong chùm “Tục ca” có tên “Khỉ đột” cũng khai thác đề tài khỉ đột hiếp người:

“Nào ngờ khỉ ta tuy có tiếng tăm/Là tay khỏe mạnh vốn tay dâm thần/Vốn tay dâm thần khỉ ta khờ lắm/   Phải chọn bà kia cho đúng lẽ ra/Ngờ đâu khỉ đột nắm tai ông tòa/Nắm tai ông tòa cùng đi chiến khu/Coi chừng khỉ đột!

Chuyện còn thật vui khi tiếp diễn ra/Chuyện con khỉ đột hiếp dâm ông tòa/Hiếp dâm ông tòa ở trong rừng lá/Vào giờ thiêng liêng riêng giữa chiến khu/Vị quan bù lu khóc như anh tù/Cũng do ông tòa mà đầu rơi sáng qua/Cũng do ông tòa mà đầu rơi sáng qua/Coi chừng khỉ đột!”

Có vẻ như hình ảnh con khỉ hay con vượn với những cơn động dục không bị kiềm chế bởi phép tắc xã hội đã trở thành mẫu hình đại diện cho sự giải phóng dục mà bất cứ chàng trai và cô gái nào cũng thèm. Không phải họ thèm muốn làm tình với vượn khỉ mà là họ cần được thỏa dục – thứ mà họ không đạt được trong phân vị con người của mình.

Vì không được thỏa dục, vì bị ức chế, nên con người bị rơi vào chứng loạn thần, mà một trong các biểu hiện là sự ám thị. Như trường hợp của Mùi, Mùi bị ám thị bởi hình ảnh con vượn đang tự sướng và lúc nào cũng có cảm giác rằng nó đang ở cạnh mình. Cô không biết rằng mình “cả nghĩ”, tức là mình tự tưởng tượng ra hay sự thực con vượn ấy lên cơn động dục mỗi khi nhìn thấy cô. Người xem như tôi cũng mơ hồ không dám khẳng định rằng nếu gặp một ai đó nói rằng họ đang bị động vật gạ tình thì vấn đề nằm ở chỗ cơn động dục của loài vật hay bởi cơn động dục của chính người ấy gây nên sự ám thị và tưởng tượng về con vật trước mắt. Cũng có thể là cả hai.

Bằng sự đi sâu vào ám ảnh dục và sự cưỡng chế, “Truyền thuyết về Quán Tiên” thực sự khiến các nữ thanh niên xung phong hiện diện chân thực hơn. Thay vì chúng ta mệt mỏi với những tuyên truyền về nỗi khổ của người phụ nữ trong chiến tranh, giờ đây chúng ta thấy thương cảm cho họ hơn, thấy họ gần gũi với chúng ta hơn. Họ không còn là những cô gái lý tưởng nữa nhưng ta lại thấy họ dũng cảm và kiên cường hơn những tô vẽ của lãng mạn Cách mạng.

“Truyền thuyết về Quán Tiên” đáng lẽ là bộ phim Việt Nam hiếm hoi xứng đáng để giới thiệu với thế giới: Ý tưởng phim chạm vào ám ảnh sâu kín nhất của con người, cảnh quay rừng núi thiên nhiên chân thực, âm nhạc vừa bi tráng vừa trữ tình, diễn viên diễn xuất nhập tâm. Thế nhưng, những thiếu sót căn bản của nền điện ảnh Việt Nam đã kéo tụt bộ phim xuống: thói quen cắt dựng như cắt gọt khoai, những câu thoại thừa thãi tới mức phát biểu trực tiếp chứng bệnh hysteria (mà phát biểu bằng tên khoa học nữa chứ), phần kết dài dòng câu giờ và không để lại ấn tượng, và đặc biệt là kỹ xảo tệ hại mô tả chuyển động của con vượn và động tác tự sướng của nó . Bỏ qua những nhược điểm ấy, “Truyền thuyết về Quán Tiên” thực sự là một bộ phim xứng đáng để xem giữa nền điện ảnh thị trường với những pha hài lố bịch.

Thế nhưng, sau khi rời khỏi rạp phim và trên đường về nhà, tôi lại tự đặt cho mình một câu hỏi: Bao giờ thì nền nghệ thuật nước ta thoát khỏi những cơn ám ảnh dục để tiến tới một cảnh giới cao hơn trong nghệ thuật? Liệu các nghệ sĩ và các nhà phê bình, nhà báo sẽ tốn thêm bao nhiêu năm nữa loay hoay giải mã và đắc ý các vấn đề về dục trong tác phẩm? Nói một cách khác, nền nghệ thuật Việt Nam vẫn trong quá trình điều trị chứng loạn thần bởi sự ức chế dục gây ra và chúng ta có lẽ chẳng thể đoán được bao giờ sẽ được điều trị thành công, giống như các bác sĩ phân tâm học cũng bất lực trong điều trị bệnh nhân của mình bởi vì họ không biết một bệnh nhân thực sự được chữa lành là như thế nào.

Hà Thủy Nguyên